Phát hiện protein trong máu kích thích kháng thể chống ung thư tự nhiên



Các nhà nghiên cứu từ Trung tâm Nghiên cứu bệnh ung thư Kimmel, Đại học Thomas Jefferson (Mỹ) đã khám phá ra rằng, decorin - một loại protein tự nhiên tuần hoàn trong máu, hoạt động như một chất ức chế mạnh sự tăng trưởng của khối u, điều chỉnh vi mô khối u.

Nghiên cứu được đăng trên tờ tạp chí điện tử Proceedings of the National Academy of Sciences ngày 24/6 đề xuất rằng, chúng ta hoàn toàn có thể khai thác khả năng của loại kháng thể chống bệnh ung thư tự nhiên này như một phương pháp điều trị bệnh ung thư, kể cả khi đã di căn.

Trước đó, decorin đã được biết đến với khả năng tác động vào một số quá trình sinh học bao gồm phản ứng viêm, chữa lành vết thương và tạo mạch máu mới. Lắng cặn của chất này cũng “thiết kế” các sợi collagen sau khi cơ thể người được hình thành.

Trong nghiên cứu này, decorin đặc biệt nhắm vào các mạch máu mới được tân tạo và ép các tế bào mạch máu phải “ăn” các thành phần bên trong chúng. Điều này làm giảm tiềm năng cung cấp dưỡng chất cho khối u và về tổng thể sẽ ức chế sự phát triển của khối ung thư.
 Theo Science Daily

Thường xuyên tập thể dục sẽ làm giảm nguy cơ mắc ung thư gan

Các nhà nghiên cứu Thụy Sĩ cho biết, những bệnh nhân có nguy cơ mắc ung thư biểu mô tế bào gan (dạng phổ biến nhất của ung thư gan) có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh bằng cách tập thể dục thường xuyên.



BS. Jean Francois Dufour, Bệnh viện ĐH Bern đã nghiên cứu trên 2 nhóm chuột có hoạt động thể chất và nhóm ít vận động. Nhóm hoạt động thể chất chạy trên máy chạy bộ cơ 60 phút/ngày trong 5 ngày/tuần. Sau 32 tuần tập thể dục thường xuyên, 71% những con chuột có chế độ ăn thông thường phát triển các khối u lớn hơn 10mm. Trong khi đó, tỉ lệ này ở nhóm chuột ít vận động là 100%. Số lượng và khối lượng trung bình của các khối u ung thư biểu mô tế bào gan trong nhóm có hoạt động thể chất cũng giảm so với nhóm ít vận động. BS. Dufour cho biết, các dữ liệu cho thấy những lợi ích đáng kể của việc tập thể dục thường xuyên đối với sự phát triển ung thư biểu mô tế bào gan. Trong một tuyên bố, ông Dufour cho hay, những lối sống tĩnh tại và không lành mạnh dẫn tới bệnh gan nhiễm mỡ không cồn, có thể dẫn đến ung thư gan sau này.

Chỉnh hình Răng hàm mặt và một số vấn đề trong điều trị



Việc chỉnh hình răng hàm mặt có thể thực hiện ở mọi lứa tuổi.Thời điểm chuẩn để làm việc này tùy thuộc vào mức độ trầm trọng của sự sai hình xương và sự lệch lạc của răng. Tuy nhiên chúng ta cần đến khám ở các bệnh viện chỉnh hình sớm để Bác sĩ đánh giá tình hình bệnh và quyết định thời điểm điều trị. 

Tại sao cần điều trị chỉnh hình răng mặt sớm?

Việc điều trị chỉnh hình răng mặt sớm sẽ :

Giúp xương hàm phát triển hài hòa với khuôn mặt, thẩm mỹ hơn.
Giúp hài hòa khớp cắn giữa hai xương hàm.
Giúp răng mọc đúng vị trí.
Hạn chế chấn thương các răng nhô ra phía trước.
Sắp xếp các răng ngay ngắn lại sớm.
Sắp xếp các răng ngay lại mà không cần nhổ răng bằng cách nới rộng xương hàm.
Sửa chữa và loại bỏ được những thói quen xấu như tật mút tay, đẩy lưỡi.
Làm giảm bớt hoặc loại bỏ một số vấn đề ảnh hưởng đến sự nuốt và phát âm.
Giảm được thời gian điều trị nếu bệnh nhân được điều trị chỉnh hình răng mặt sớm.
Ít gây đau đớn và khó chịu cho bệnh nhân.
Bệnh nhân được điều trị chỉnh hình răng mặt sớm sẽ dễ dàng hợp tác hơn.
Chi phí điều trị sẽ ít tốn kém hơn.

Có cần nhổ răng trong lúc điều trị chỉnh hình răng mặt?

Không bắt buộc phải nhổ răng trong tất cả các trường hợp cần điều trị chỉnh hình răng mặt. Việc nhổ răng chỉ thực hiện khi cần tạo chỗ trống cho việc sắp xếp các răng ngay ngắn lại trên cung hàm. Có những bệnh nhân có sẵn những khoảng trống giữa các răng, khi điều trị chỉnh hình răng mặt sớm có thể nới rộng xương hàm nên trong những trường hợp này có thể chỉnh hình mà không cần nhổ răng.

Một số vấn đề cần chú ý khi điều trị chỉnh hình răng mặt

Chỉnh hình răng mặt có nhiệm vụ tái tạo lại thẩm mỹ và chức năng cho bệnh nhân. Muốn vậy, người ta phải sắp xếp các răng lệch lạc ngay ngắn lại và ăn khớp đều đặn với nhau. Kết quả điều trị cần có một chẩn đoán đúng đắn về những lệch lạc của khớp cắn và thái độ hợp tác của bệnh nhân.
Sự hợp tác chặt chẽ giữa cha mẹ và trẻ được chỉnh hình là rất cần thiết để đạt kết quả tốt. Muốn vậy cần:

Luôn tái khám đúng lịch hẹn của bác sĩ chỉnh hình răng mặt để theo dõi và chỉnh khí cụ chỉnh hình.

Cần giữ gìn vệ sinh răng miệng kỹ lưỡng, đặc biệt khi điều trị bằng các khí cụ cố định để phòng ngừa sâu răng, viêm nướu và hôi miệng.

Không nên chơi những môn thể thao như đá banh, khúc côn cầu... vì có thể gây chấn thương vùng mặt hoặc răng.

Nghiêm túc mang những khí cụ tháo lắp như dây thun, băng đầu... đúng theo sự hướng dẫn của bác sĩ chỉnh hình răng mặt.

Chịu đựng và chấp nhận một ít khó chịu về phát âm khi mang các khí cụ điều trị chỉnh hình răng mặt, nhất là khí cụ tháo lắp có thể làm bệnh nhân bị đau trong một hai tuần lễ đầu.

Cần nghe theo lời dặn của bác sĩ chỉnh hình răng mặt trong việc ăn uống như không được ăn những thức ăn cứng như đá cục, kẹo, hạt đậu, bánh mì cứng hay những thức ăn dính. Không được cắn bút hay viết chì vì sẽ làm hư hoặc sút các mắc cài chỉnh hình khiến kết quả điều trị lâu hơn.  

Sưu tầm bởi Bệnh viện FV

Điều trị ho do viêm họng và viêm phế quản bằng thảo dược

Vào mùa thu-đông, chúng ta rất dễ mắc phải những căn bệnh liên quan tới tai mũi họng , đặc biệt là ho do viêm họng và viêm phế quản. Một số loại thảo dược có thể giúp bạn chữa khỏi ho với công thức rất đơn giản mà lại hiệu quả

1. Cam thảo
Trong thử nghiệm trên động vật, cam thảo đã được chứng minh có các tác dụng giảm ho, chống co thắt cơ trơn, chống viêm và chống dị ứng. Hoạt chất acid glycyrhizic ở cam thảo có tác dụng ức chế sự phát triển của nhiều loài vi khuẩn gây bệnh.
Trong y học cổ truyền, cam thảo được dùng làm thuốc long đờm chữa ho khản tiếng, viêm họng, viêm phế quản. Ngày uống 4-20g dưới dạng bột, thuốc hãm, nước sắc, thường phối hợp với các vị khác.

2. Cát cánh
Trên thực nghiệm, rễ cát cánh biểu hiện các tác dụng long đờm và giảm ho. Thử nghiệm lâm sàng trên bệnh nhân cho thấy nhóm hoạt chất saponin của cát cánh có tác dụng tiêu đờm rõ rệt. Khi uống, saponin gây kích thích niêm mạc họng và phế quản dẫn đến phản ứng tăng tiết dịch nhầy ở niêm mạc, làm cho đờm loãng dễ bị tống ra ngoài.
Rễ cát cánh được dùng chữa ho có đờm, viêm đau họng khản tiếng, viêm phế quản. Ngày uống 10-20g dạng thuốc sắc.

3. Dâu
Cao chiết từ lá, vỏ, rễ và thân cây dâu có tác dụng ức chế sự phát triển của các vi khuẩn gram dương và an thần nhẹ. Trong y học cổ truyền, vỏ rễ dâu chữa phế nhiệt, ho có đờm, ho gà trẻ em, ngày uống 4-12g, có khi đến 20-40g, dùng dạng thuốc sắc hay thuốc bột. Lá dâu chữa ho, viêm họng, viêm phế quản. Ngày uống 4-12g, dạng thuốc sắc.

4. Gừng
Trên thực nghiệm, gừng có tác dụng chống co thắt cơ trơn, chống dị ứng, kháng histamin, chống viêm và giảm ho. Hoạt chất cineol trong gừng có tác dụng diệt nhiều loại vi khuẩn gây bệnh.
Gừng tươi được dùng chữa cảm mạo phong hàn, ngạt mũi, ho có đờm. Ngày dùng 4-8g dạng thuốc sắc. Gừng khô, gừng sao chữa ho suyễn, viêm phế quản; Làm thuốc chống cảm lạnh, chống nhiễm khuẩn trong các chứng ho và sổ mũi. Ngày uống 4-20g dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán, thường phối hợp với các vị khác.

5. Mạch môn
Rễ mạch môn có các tác dụng kháng khuẩn đối với phế cầu và tụ cầu vàng, chống viêm, ức chế ho trong mô hình gây ho thực nghiệm trên động vật, đồng thời có tác dụng long đờm, làm tăng tiết dịch nhầy ở niêm mạc khí phế quản. Mạch môn được dùng chữa ho khan, viêm họng. Ngày uống 6-20g, dạng thuốc sắc.

6. Tía tô
Tinh dầu tía tô có tác dụng ức chế các vi khuẩn tụ cầu vàng, liên cầu tan máu, phế cầu. Hoạt chất luteolin trong tía tô có tác dụng chống dị ứng. Tía tô được dùng làm thuốc long đờm, chữa ho nhiều đờm. Ngày dùng 3-10g, sắc uống.

7. Tiền hồ

Tiền hồ có tác dụng kháng khuẩn đối với tụ cầu vàng và một số vi khuẩn khác. Ngoài ra còn có tác dụng long đờm. Trong y học cổ truyền, tiền hồ được dùng làm thuốc long đờm, chữa ho, đờm suyễn, viêm phế quản. Ngày uống 8-15g dạng thuốc sắc.

xem thêm bệnh viện fv

Tiêm vắc-xin viêm gan B là biện pháp tốt nhất phòng ung thư gan



TS.BS. Nguyễn Văn Cường, Phó chủ nhiệm Chương trình Tiêm chủng mở rộng quốc gia cho biết: Lịch tiêm vắc xin viêm gan B cho trẻ dưới 1 tuổi là 3 mũi. Mũi đầu tiên vắc xin viêm gan B còn gọi là liều tiêm viêm gan B sơ sinh.

Việc tiêm viêm gan B sơ sinh trong vòng 24 giờ được thực hiện trong TCMR từ năm 2006.  Vắc xin viêm gan B được đưa vào triển khai thí điểm trong chương trình TCMR từ năm 1997. Đến năm 2003, vắc xin viêm gan B được triển khai tiêm chủng cho tất cả các trẻ em dưới 1 tuổi trong toàn quốc.

Vắc xin viêm gan B được đánh giá là một trong những vắc xin an toàn nhất. Tất cả các lô vắc xin viêm gan B đều được kiểm định đảm bảo đạt tiêu chuẩn chất lượng của Việt Nam cũng như của Tổ chức Y tế thế giới trước khi phân phối để sử dụng.

Trong những năm 2007, 2008, có một số phản ứng nặng sau tiêm chủng vắc xin viêm gan B sơ sinh, tuy nhiên sau khi điều tra đánh giá nguyên nhân của các phản ứng trên thì không tìm thấy mối liên quan giữa việc tiêm với vắc xin viêm gan B. Hầu hết là do các bệnh trùng hợp của những đứa trẻ này.

Việc lây nhiễm viêm gan B cho trẻ sơ sinh chỉ xảy ra nếu mẹ có nhiễm viêm gan B. Như vậy, trong giai đoạn bào thai và sơ sinh, trẻ không có nguy cơ lây nhiễm từ bố. Tuy nhiên, sau khi trẻ ra đời cần được tiêm phòng vắc xin viêm gan B đầy đủ theo lịch. Cần chú ý rằng, khả năng bị lây truyền viêm gan B của trẻ nếu trong gia đình có người mắc bệnh - sẽ cao hơn.

Với các bà mẹ trong quá trình mang thai có kết quả xét nghiệm âm tính với viêm gan B thì đứa trẻ sinh ra vẫn nên tiêm vắc xin viêm gan B theo lịch tiêm chủng của địa phương, có thể sau 1 tuần hoặc theo lịch cụ thể, nhưng phải trong vòng 1 tháng sau sinh.

TS.Trần Văn Thuấn, Phó Giám đốc Viện K, Viện trưởng Viện nghiên cứu phòng chống ung thư quốc gia cho biết: Ung thư gan là bệnh ung thư phổ biến đứng hàng thứ 4 ở cả 2 giới ở Việt Nam. Tiêm vắc xin phòng viêm gan B là biện pháp hiệu quả nhất phòng ngừa ung thư gan về sau này.

Trong điều kiện Việt Nam có tỷ lệ lưu hành virut viêm gan B cao, nếu trẻ không được tiêm chủng viêm gan B nói riêng và tiêm phòng các bệnh khác nói chung thì sẽ dẫn đến hàng loạt những hậu quả về sau này, sẽ xuất hiện các ca bệnh bại liệt, ho gà, bạch hầu, uốn ván... mà chúng ta đã thanh toán được.
Tổng hợp

10 khám phá mới về bệnh ung thư vú

Ung thư vú nếu không phát hiện và can thiệp kịp thời sẽ di căn vào mạch máu, mạch bạch huyết, cơ hoành và các bộ phận khác của cơ thể, phát sinh nhiều biến chứng nặng, đe dọa đến tính mạng con người. 10 phát hiện dưới đây được xem là những khám phá rất mới về căn bệnh nói trên.
Có tới 4 dạng ung thư vú
Theo nghiên cứu công bố trên tạp chí Nature số ra mới đây, đặc biệt là qua phân tích gen, các nhà khoa học phát hiện thấy có tới 4 dạng ung thư vú khác nhau. Đây là kết quả nghiên cứu hợp tác giữa Đại học Y khoa Washington và Trung tâm Ung thư Siteman. Theo TS. Mathew Ellis, trưởng nhóm nghiên cứu thì phát hiện trên rất độc đáo về mối liên quan giữa di truyền với ung thư. Nhờ phát hiện này mà trong tương lai người ta sẽ tìm ra thuốc đặc trị cho từng cá thể, nói cụ thể hơn là phù hợp với từng biến thể gen của mỗi người.
Ung thư vú ở đàn ông nguy hiểm hơn ở phụ nữ
Theo các chuyên gia Hiệp hội Phẫu thuật ung thư vú Mỹ (ASBS) thì đàn ông có tỷ lệ mắc bệnh ung thư vú thấp hơn so với phụ nữ nhưng mức độ nguy hiểm lại cao hơn. Nếu phát hiện sớm và điều trị kịp thời thì tuổi thọ vẫn ngắn hơn 2 năm so với phụ nữ mặc dù thời điểm phát hiện giống nhau. Ngoài ra, mức độ di căn ung thư vú ở đàn ông nhanh hơn, khi được phát hiện thường ở giai đoạn nặng, khối u lớn. Vì vậy, một khi có dấu hiệu bất thường, không nên chậm trễ, cần đi khám càng sớm càng tốt.
Cadmium - thủ phạm gia tăng ung thư vú
Cadmium (cadimi) là kim loại chuyển tiếp tương đối hiếm, mềm, màu trắng ánh xanh có độc tính cao, có trong các loại quặng kẽm và được sử dụng để sản xuất pin. Đây là kim loại nặng đôi khi có mặt trong thực phẩm, nhất là cá, rau xanh dạng củ, ngũ cốc... Tạp chí Nghiên cứu Ung thư của Mỹ đăng tải nghiên cứu ở 56.000 phụ nữ cho biết, những người có khẩu phần ăn giàu cadmium thì nguy cơ mắc bệnh ung thư vú cao gấp 21% so với những phụ nữ có khẩu phần ăn bình thường hoạc có hàm lượng cadmium thấp.

 Năm 2013, các nhà khoa học phát hiện gạo chứa chất cadmium gây ung thư ở Quảng Châu, Trung Quốc.

Ít ngủ, thủ phạm gia tăng ung thư vú
Tạp chí Breast Cancer Research and Treatment cho biết, những phụ nữ ngủ dưới 6 tiếng/đêm, nhất là nhóm sau mãn kinh thì tỷ lệ ung thư vú ở mức cao nhất, trong khi đó ở nhóm chưa mãn kinh lại không có hiệu ứng tiêu cực này. Đặc biệt, những người càng mất ngủ nhiều thì khối u "tăng trưởng" càng nhanh. Vì vậy giấc ngủ được xem là nguy cơ gia tăng bệnh ung thư vú rất cao, mọi người cần quan tâm đến giấc ngủ, mỗi ngày cố gắng ngủ 7 - 8 tiếng.
Virut đậu mùa - cứu tinh cho bệnh nhân ung thư vú?
Tại Hội nghị lâm sàng thường niên của Trường cao đẳng Phẫu thuật Mỹ tổ chức cuối năm 2012, các nhà khoa học đã công bố nghiên cứu mới cho biết về triển vọng điều trị bệnh ung thư vú của virut đậu mùa. Nhất là nhóm người mắc bệnh ung thư vú ba tiêu cực (triple-negative breast cancer). Theo nghiên cứu, sau khi điều trị bằng liệu pháp virut đậu mùa (Smallpoxvirus) có ít nhất 60% các khối u được triệt tiêu và 40% có dấu hiệu hoại tử. Ung thư vú ba tiêu cực là căn bệnh khó điều trị vì nó không đáp ứng với các thủ thuật điều trị hormon hoặc miễn dịch.
Làm việc ca đêm dễ bị ung thư vú
Tạp chí Y học nghề nghiệp và Môi trường (OEM) số ra tháng 9/2013 cho biết, những phụ nữ làm việc ca đêm có rủi ro bị ung thư vú cao, nhất là những người đi làm ca đêm 2 lần/tuần. Ngoài nghiên cứu trên, nhiều tạp chí y học danh tiếng trên thế giới cũng khẳng định điều này như tờ Toronto Sun của Canada, hoặc tạp chí Ung thư Quốc tế (IJC). Theo đó, nhóm phụ nữ đi làm ca đêm có nguy cơ mắc bệnh ung thư vú cao 30% so với nhóm đi làm truyền thống, đặc biệt càng đi ca đêm nhiều thì rủi ro bị bệnh ung thư vú càng lớn, nhất là từ 4 năm làm ca đêm, tần suất 2 - 3 lần/tuần.
Kích thước áo nịt ngực có thể gia tăng nguy cơ mắc bệnh
Trước tiên, hệ gen cơ thể quyết định kích thước bầu vú, kết luận này được công bố trên tạp chí BMC Medical Genetics sau khi kết thúc nghiên cứu ở 16.000 phụ nữ. Trong nghiên cứu, các nhà khoa học còn phát hiện thấy 7 biến thể ADN và được đặt tên là những điểm đa hình đơn nucleotide (single - nucleotide polymorphisms), gọi tắt SNP. Theo đó, nếu ai có tới 3 SNP thì rủi ro ung thư vú cao hơn những người không có các biến thể này, còn áo nịt ngực to nhỏ là thể hiện kích thước bộ ngực mỗi người có liên quan đến hệ gen trong cơ thể.
Luyện tập có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh
Theo nghiên cứu của Đại học North Carolina thì chỉ cần luyện tập ít, nhưng đều đặn mỗi ngày có thể giúp phụ nữ giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư vú, nhất là nhóm phụ nữ sau mãn kinh. Trung bình, luyện tập 10 - 19 giờ/ tuần thì giảm được 30% ung thư vú so với nhóm không luyện tập hoặc luyện tập ít.
Bệnh đái tháo đường týp 2 có thể làm gia tăng ung thư vú
Nhóm chuyên gia ở Viện nghiên cứu Phòng bệnh Quốc tế (IPRI) mới đây đã hoàn tất nghiên cứu dài kỳ và phát hiện thấy, đối với nhóm phụ nữ mãn kinh nếu mắc bệnh đái tháo đường týp 2 thì rủi ro mắc bệnh ung thư vú rất cao, nhất là nhóm người béo phì, dư thừa trọng lượng. Lý do, bệnh đái tháo đường tác động trực tiếp đến các hoạt động, chức năng của hormon và làm cho các khối u phát triển nhanh.
Béo phì - kẻ đồng hành với ung thư vú

Dư thừa trọng lượng, béo phì không chỉ làm giảm vẻ đẹp mà còn gây bất lợi cho sức khỏe, trong đó có rủi ro gia tăng bệnh ung thư vú. Thậm chí những người đang điều trị ung thư vú nếu béo phì cũng giảm tác dụng của thuốc, thời gian phục hồi lâu hơn và nguy cơ tái phát gây tử vong cao hơn so với nhóm người có trọng lượng bình thường. Vì lý do này mà mọi người dù mắc bệnh hay không mắc bệnh cũng nên duy trì trọng lượng cơ thể ở ngưỡng hợp lý bằng cách ăn uống cân bằng, khoa học và năng luyện tập.

Đàn ông có bị ung thư vú?

Cách đây 5 tháng tôi phát hiện ngực trái có u cục, không đau nên tôi không đi khám nhưng khối u ngày càng ngày càng to khiến tôi lo lắng. Xin quý báo cho biết nam giới có mắc ung thư vú không và biểu hiện như thế nào?
Lê Văn Đặng (Kiên Giang)

Những biểu hiện ung thư vú ở nam giới.


Lâu nay khi nói đến ung thư vú nhiều người thường nghĩ rằng đó là bệnh chỉ có ở phụ nữ, do đó không nghĩ nam giới cũng có thể mắc bệnh này. Thế nhưng một báo cáo gần đây cho thấy tỉ lệ ung thư vú ở nam có xu hướng gia tăng, tại nước ta cũng đã có nhiều người mắc.
Ung thư vú ở nam giới hiếm gặp hơn ở nữ giới, thường ở độ tuổi 50 - 60, muộn hơn 10 năm so với phụ nữ nhưng lại nguy hiểm hơn. Bởi tuyến vú của nam không phát triển nên tốc độ tế bào ung thư xâm lấn vào gan, phổi, xương diễn ra rất nhanh.
Triệu chứng điển hình của bệnh là có một cục cứng ở dưới quầng vú, đôi khi nằm ở 1/4 trên ngoài của vú. Ngoài ra, các chuyên gia đã đưa ra một số dấu hiệu ở vú gồm:
Da ở một vùng vú bị lõm hoặc nhăn, núm vú tụt vào trong, núm vú sưng đỏ hoặc đóng vảy ở đầu núm vú, … Tuy nhiên, với quan niệm cho rằng nam giới không bao giờ bị bệnh ung thư vú, thường không được quan tâm đến những bất thường ở vú nên hầu như nam giới không thực hiện việc tầm soát vú trong các cuộc kiểm tra định kỳ. Đến khi xảy ra các triệu chứng như loét da vùng vú, xâm lấn da hay dính vào thành ngực, kèm theo hạch nách... thì bệnh đã chuyển sang giai đoạn muộn khiến cho việc điều trị khó khăn.
Vì vậy, để phát hiện sớm và điều trị có hiệu quả bác cần đến khám bác sĩ càng sớm càng tốt. Tùy vào kết quả khám, mà các bác sĩ sẽ chỉ định chụp hình vú, làm sinh thiết tế bào hoặc các xét nghiệm khác xác định bệnh.

Bác sĩ Nguyễn Văn